Page II

SỰ PHONG PHÚ CÁC TRƯỜNG PHÁI VÕ THUẬT


Võ thuật Nhật Bản có thể chia làm hai nhóm lớn - Các kỹ thuật Võ Nghệ Cổ Truyền được truyền lại qua nhiều thế kỷ vaf Võ Đạo ngày nay , được tập như các môn thể thao . Chúng ta hãy tìm hiểu một số môn thuộc mỗi nhóm này .

1 . Kendo ( Kiếm Đạo )



Kiếm đạo là một môn thể thao tranh tài . Đánh vào những vùng nào đó của đối phương thì được tính điểm , người thi đấu dùng một cây kiếm tre ( shinai ) dài tối đa 118 cm . Các kiếm sĩ dùng bốn loại dụng cụ để bảo vệ thân thể - một cái Men ( Mặt nạ ) , một cái Do ( Giáp ngực ) , hai cái Kote ( vật bảo vệ bàn tay và ống tay ) , và một cái Tare ( Giáp eo ) . Cũng như kiếm thuật phương Tây , kiếm thuật cổ truyền Nhật Bản đã trở thành một môn thể thao hiện đại . Casc kiếm sĩ Tây phương cầm kiếm thép bằng một tay , còn các kiếm sĩ Nhật cầm kiếm tre Shinai bằng cả hai tay . Người Nhật thích Kiếm đạo cũng như Nhu đạo , vì thế môn này có khoảng hai triệu môn sinh . Cũng như Nhu Đạo , kiếm đạo là một trong chương trình giáo dục học đường và thường được luyện tập như một hoạt động ngoại khóa . Liên đoàn kiếm đạo quốc tế được thành lập năm 1970 và hiện có khoảng 8 triệu người luyện tập kiếm đạo ngoài Nhật Bản .


2 . Judo ( Nhu Đạo )



Năm 1882 , Kano Jigoro sáng lập môn Nhu đạo dựa trên môn Jujutsu ( Nhu thuật ) cổ truyền . Nhu đạo là một hình thức chiến đấu không dùng vũ khí , chế ngự đối phương bằng những kỹ thuật như ném , đè , nắm chặt , hoặc khóa các khớp xương . Điểm khác biệt lớn nhất giữa Nhu Đạo và Nhu thuật là , trong Nhu thuật , các đấu thủ được phép đấm, đá , và xô đối phương , trong khi ở Nhu đạo những động tác này bị cấm vì nguy hiểm . Nhu đạo trở thành một môn Thể thao Olympic năm 1964 , đúng dịp Thế vận hội 1964 tại Tokyo . Khoảng 1,5 triệu người Nhật có đẳng cấp , và có chừng 20 triệu người luyện tập nhu đạo trên khắp thế giới .


3 . Shorinji Kempo ( Thiếu Lâm Nhật Bản )




Shorinji Kempo do Michiomi theo học các kỹ thuật chiến đấu của các Võ tăng ở chùa Thiếu Lâm , một chùa Thiền Tông tại Trung Quốc , rồi phát triển các kỹ thuật này thành một môn võ công mới sau Đệ nhị thế chiến . Các võ sĩ dùng các kỹ thuật liên quan đến tay chân như chưởng và cước . Trong lúc luyện tập có dụng cụ bảo vệ thân thể và các võ sinh có thể tự do tấn công và tự vệ . Khi thi đáu , các võ sinh mặc võ phục như cá vị sư Thiền Tông ( vì việc luyện tập này được xem là một phần tu Thiền ) , và chỉ biểu diễn cá thế Kata . Có khoảng 1.300.000 người Nhật và 150.000 người ở các nước khác luyện tập môn võ Thiếu Lâm Nhật Bản .


4 . Aikido ( Hiệp Khí Đạo )



Hiệp Khí Đạo được Sáng tổ Ueshiba Morihei hệ thống hóa năm 1922 dựa trên những kỹ thuật của chi phái Daito Aiki ( Đại Đông Hiệp Khí ) của môn Nhu thuật . Mục tiêu là để chống trả một cuộc tấn công bằng chính sức mạnh của đối phương . Nhiều thế võ cần phải sử dụng tay chân như khóa ngoặc cổ tay , cùi tay , hoặc một khớp nào khác của đối phương , rồi ném hoặc đè anh ta xuống . Những kỹ thuật này có thể gây nguy hiểm , vì thế khi luyện tập phải theo đúng trình tự quy định . Ít khi có những cuộc thi đấu . Hiệp khí đạo được nữ giới và những người lớn tuối yêu thích vì nó là một nghệ thuật tự vệ ít dùng sức . Có khoảng 600.000 người tại Nhật và 1.200.000 người tại nước ngoài luyện tập môn võ công này .


5 . Karate ( Không Thủ Đạo )




Karate có cả các thế tấn công và tự vệ . Các kỹ thuật tấn công gồm có đánh , đấm , và đá . Lại có những kỹ thuật phòng vệ tương ứng để đánh bạt những thế tấn công này . Hình thức thi đáu có thể là một loạt bài quyền Kata biểu diễn nhiều kỹ thuật khác nhau hoặc công thủ tự do . Một soos võ đường Karate không tập một bài quyền Kata nào cả . Karate vốn là một môn quyền cước Trung Quốc được phát triển trên đất Nhật tại Okinawa . Ngày xưa chỉ có người ở Okinawa luyện tập môn này . Sau cuộc Canh tân Minh Trị ( 1868 ) Karate được phổ biến khắp Nhật Bản và sau Đệ nhị Thế chiến , truyền đến các nước khác . Karate có hơn 3.000.000 môn sinh tại Nhật và khoảng 30.000.000 người trên khắp Thế giới .